Men vi sinh | Tre bieng an phai lam gi | Cốm vi sinh | Collagen elastin |

Thực phẩm chức năng TĐcare

Viên tiểu đường TĐCARE là sản phẩm 100% nguồn gốc thảo dược có tác dụng hỗ trợ điều trị bệnh tiểu đường, đặc biệt giúp ngăn ngừa các biến chứng nguy hiểm do bệnh tiểu đường gây ra. Sản phẩm được kết hợp từ 7 thảo dược quý: Khổ qua, dây thìa canh, tảo spirulina, hoài sơn, sinh địa, thương truật, linh chi giúp hạ đường huyết, hỗ trợ làm giảm cholesterol trong máu. TĐCARE làm giảm chỉ số HbA1c, giảm các nguy cơ biến chứng của bệnh tiểu đường, phòng bệnh cho các đối tượng có nguy cơ cao. Số XNCB: 21386/2016/ATTP-XNCB Số ĐKQC: 1102/2015/XNQC-ATTP

-          Giúp hạ và ổn định đường huyết, giảm cholesterol và lipit trong máu.

-          Giúp giảm chỉ số HbA1c, ngăn ngừa các biến chứng do bệnh tiểu đường gây ra

-          Hỗ trợ điều trị bệnh tiểu đường

Kết quả nghiên cứu lâm sàng tại Bệnh viện Trung ương quân đội 108 đã chứng minh tác dụng hạ đường huyết và ngăn ngừa biến chứng tiểu đường của TĐCARE.

Nghiên cứu đã chọn ra 60 bệnh nhân bị tiểu đường type 2 lâu năm (thường trên 10 năm) đang điều trị nội và ngoại trú tại bệnh viện Trung ương quân đội 108 trong thời gian từ 04/2013 đến 04/2014. Bệnh nhân khi được chẩn đoán xác định đái tháo đường type 2 được chia ngẫu nhiên thành 2 nhóm: Nhóm nghiên cứu (sử dụng thuốc hạ đường máu + TĐCARE) và nhóm chứng (chỉ sử dụng thuốc hạ đường máu). Kết quả sau 3 tháng điều trị:

-          Những bệnh nhân nhóm nghiên cứu có tác dụng làm hạ đường huyết tốt hơn từ (8.7 xuống 6.37) so với nhóm chứng (từ 8.71 xuống 7.23). Ngoài ra, khi sử dụng viên tiểu đường TĐCARE có thể giảm được liều thuốc tân dược ở những bệnh nhân ĐTĐ type 2 mức độ vừa và nhẹ.

 Biểu đồ so sánh chỉ số đường huyết của nhóm nghiên cứu và nhóm chứng.

nghien-cuu-lam-sang

-          Chỉ số HbA1c của những bệnh nhân nhóm nghiên cứu sau 3 tháng điều trị có xu hướng giảm từ 8,63% xuống 6,14%. Ngược lại, chỉ sốHbA1c của bệnh nhân nhóm chứng có xu hướng giảm nhưng không đáng kể (từ 7,77% xuống 7,47%).

Biểu đồ so sánh chỉ số HbA1c của nhóm nghiên cứu và nhóm chứng

nghien-cuu-lam-sang1

Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, TĐCARE có tác dụng làm giảm Cholesterol và Triglicerid máu. Đồng thời, sau nghiên cứu bệnh nhân sử dụng TĐCARE có mức đường huyết ổn định, chỉ số HbA1c rất tốt và duy trì trong khoảng cho phép.

Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy TĐCARE an toàn với người bệnh, và không gây tác dụng phụ. Vì vậy, người bệnh có thể yên tâm sử dụng lâu dài.

  • Khổ qua…………………………. 3,0g
  • Dây thìa canh…………………. 1,0g
  • Thương truật…………………… 1,0g
  • Linh Chi…………………………. 0,3g
  • Sinh địa………………………….. 0,3g
  • Hoài sơn…………………………. 0,2g
  • Tảo Spirulina…………………… 0,3g
  • Tá dược vừa đủ…………………. 1 viên
  • Dùng cho người bị bệnh đường huyết, người cholesterol và lipit trong máu cao.
  • Dùng cho người có nguy cơ cao mắc bệnh tiểu đường.

Ngày uống 2 lần, mỗi lần 2 – 3 viên.

  • Khi uống sản phẩm vẫn phải thực hiện chế độ ăn kiêng (kiêng ăn chất ngọt: đường, hoa quả ngọt, hạn chế tinh bột). Cần tăng cường hoạt động thể lực để giúp tiêu hao lượng đường có trong cơ thể.
  • Uống sản phẩm nên kiểm tra đường huyết thường xuyên hàng tháng để biết và điều hòa lượng sản phẩm khi sử dụng cho phù hợp

Sản phẩm này không phải là thuốc, không có tác dụng thay thế thuốc chữa bệnh.

Đái tháo đường (ĐTĐ) là một bệnh tăng đường huyết mạn tính, do thiếu insulin tương đối hay tuyệt đối, gồm ĐTĐ type1, type 2 và ĐTĐ thai kỳ, trong đó ĐTĐ type 2 hay ĐTĐ không phụ thuộc insulin chiếm tỷ lệ tới hơn 90%. Theo WHO và IDF (International Diabetes Federation –Hiệp hội ĐTĐ thế giới), đến năm 2030, cả thế giới có khoảng 350 triệu người mắc ĐTĐ type 2, gấp đôi con số hiện tại. Việt Nam thuộc khu vực châu Đông Nam Á, theo một báo cáo của Ruta và cộng sự, có tỷ lệ người dân bị ĐTĐ type 2 khoảng 12,2 – 44,3%.

1.   Định nghĩa:

Theo WHO, bệnh tiểu đường (đái tháo đường) là bệnh mà đường máu lúc đói lớn hơn 7 mmol/l (126 mg/dl) khi xét nghiệm đường máu hơn 2 lần hoặc định lượng đường máu ở bất kỳ thời điểm nào cũng lớn hơn 11 mmol/l (189 mg/dl).

2.   Phân loại:

2.1. Đái tháo đường type 1 (ĐTĐ phụ thuộc insulin):

-   Xảy ra ở người trẻ, phần lớn từ 10 – 20 tuổi.

-   Tỷ lệ mắc cao ở các gia đình có người bị ĐTĐ phụ thuộc insulin.

-   Có xu hướng biến chứng hôn mê toan huyết.

-   Thường có HLADR3 và/hoặc HLADR4.

-   Có kháng thể kháng tiểu đảo Langerhans.

-   Sự bài tiết insulin có thể còn ở giai đoạn đầu chẩn đoán, sau đó giảm dần đến cạn kiệt sau ít năm. Có thể chia type 1 thành 2 loại: Ia và Ib.

2.2. Đái tháo đường type 2 (ĐTĐ không phụ thuộc insulin):

-   Thường xảy ra ở người trên 35 tuổi.

-   Đường huyết thường tăng cao nhiều năm trước khi được chẩn đoán.

-   Thường có triệu chứng nhẹ, được chẩn đoán tình cờ.

-   Đa số bệnh nhân thuộc loại béo (90% ở các nước phát triển).

-   Sự tiết insulin thấp tương đối, có sự kháng insulin ở tổ chức ngoại biên và gan.

-   Các yếu tố di truyền ở loại này rất quan trọng, thường thấy ở trẻ sinh đôi đồng hợp tử (100% ở type 2, trong khi chỉ có 50% ở type 1).

-   Có thể chia 3 type: type 2 không béo, type 2 béo và thể MODY (ĐTĐ khởi phát ở người trẻ tuổi).

2.3. Đái tháo đường thai kỳ:

-   Thường gặp ở nữ có thai có đường huyết tăng hoặc giảm dung nạp glucose, gặp khi có thai lần đầu và mất đi sau đẻ.

-   Sự tiến triển của đái tháo đường thai kỳ sau đẻ theo 3 khả năng: trở thành ĐTĐ thực sự, giảm dung nạp đường huyết lúc đói hoặc khỏi hoàn toàn.

-   Thường gặp ở người có tiền sử gia đình có ĐTĐ, tiền sử thai nhi chết trước khi sinh hoặc dị dạng, đa ối, nhiễm độc huyết, kháng nguyên HLADR+.

3.   Chẩn đoán:

3.1. Triệu chứng lâm sàng cổ điển:

Các triệu chứng rầm rộ thường ít gặp, trừ giai đoạn mất bù: ăn nhiều, sút cân, đái nhiều, uống nhiều.

3.2.Triệu chứng sinh hóa:

-   Đường huyết đói ≥ 126 mg/dl

-   Đường huyết 2 giờ sau test dung nạp Glucose ≥ 200 mg/dl

-   Đường huyết ngẫu nhiên ≥ 200 mg/dl kèm với triệu chứng tăng đường huyết

-   Tiền đái tháo đường: HbA1c = 5,7 – 6,4%.

-   Đường huyết đói: 100 – 125 mg/dl hay đường huyết 2 giờ sau test dung nạp glucose: 140 – 199 mg/dl.

3.3. Các xét nghiệm khác:

-   Đường niệu: chỉ có tăng đường huyết mới khẳng định chẩn đoán; việc phát hiện đường niệu ngay cả với phương pháp đặc hiệu glucose – oxydase cũng phải đối chiếu với đường huyết để đối chiếu với đường huyết để loại trừ đái đường do thận.

-   Hemoglobin glycosyl hóa: Chỉ số HbA1c tương quan chặt chẽ với giá trị đường huyết trong một thời gian dài. Trước đây, HbA1c chỉ có ý nghĩa theo dõi mà không phải tiêu chuẩn chẩn đoán. Tuy nhiên hiện nay, chỉ số này đã được coi như một trong những tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ type 2.

4.   Biến chứng của bệnh ĐTĐ:

4.1. Biến chứng vi mạch:

-   Biến chứng này tác động đến tất cả các cơ quan do tổn thương các mạch máu có đường kính < 3 µm, do màng đáy dày lên.

-   Liên quan tới tăng đường huyết bất kể loại và nguyên nhân nào.

-   Một số yếu tố khác đóng vai trò tới biến chứng này:

  • Tăng huyết áp làm nặng thêm tăng áp lực mao mạch.
  • Rối loạn huyết động, tăng tổng hợp thromboxan A2, tăng độ kết dính và ngưng tập tiểu cầu, tăng độ quánh của máu.
  • Rối loạn nội tiết: tăng hormone sinh trưởng, cường insulin và cường glucagon.

4.1.1. Biến chứng võng mạc:

Bệnh võng mạch do ĐTĐ gồm các triệu chứng sau:

-   Giãn các tĩnh mạch nhỏ.

-   Các vi phình mạch.

-   Xuất huyết.

-   Phù nề võng mạc.

-   Phù hoàng điểm.

-   Xuất huyết các tân mạch.

4.1.2. Biến chứng thận do ĐTĐ:

Tổn thương các cuộn mạch cầu thận do màng đáy mao mạch dày và xuất hiện các lắng cặn dạng màng, nhuộm PAS dương tính.

Các cặn có thể là các hạt (tạo ra sự xơ cuộn mạch cầu thận trong hội chứng Kimmelstiel Wilson) hoặc các cặn lan tỏa.

Sau một thời gian dài không triệu chứng, có thể phát hiện albumin siêu nhỏ, với lượng > 30 mg/phút.

-   Độ lọc cầu thận giảm. Xuất hiện hội chứng thận hư.

-   Creatinin máu cao.

4.2. Biến chứng mạch máu lớn:

Hai biến chứng thường có và nặng là suy vành và bệnh động mạch chi dưới.

-   Suy vành

Điển hình hoặc không điển hình (không đau ngực)

  • Nhồi máu cơ tim điển hình hoặc yên lặng là một nguyên nhân suy tim ở người ĐTĐ.
  • Bệnh mạch vành là nguyên nhân gây tử vong hang đầu của ĐTĐ, gấp 3 lần so với người không ĐTĐ.

-   Bệnh động mạch chi dưới

Bệnh ĐTĐ có nguy cơ viêm động mạch chi dưới gấp 40 lần đối tượng không ĐTĐ. Tắc mạch chi có thể gây hoại tử các ngón chân, loét bàn chân.

-   Tai biến mạch máu não

Nhồi máu não và xuất huyết não nhiều gấp 3 lần ở người bình thường do xơ vữa động mạch và tăng huyết áp.

Các biến chứng mạch máu lớn là nguyên nhân gây tử vong chính trong bệnh ĐTĐ, gặp ở ĐTĐ type 2 nhiều hơn type 1. Khi có biến chứng thận thì nguy cơ này bằng nhau cho cả 2 type.

-   Cao huyết áp

Rất thường gặp (30% bệnh nhân ĐTĐ thường bị cao huyết áp), có thể liên quan tới kháng insulin và béo phì. Trong một số trường hợ cao huyết áp do hẹp động mạch thận.

-   Xơ vữa động mạch và rối loạn chuyển hóa lipid

Xơ vữa động mạch và rối loạn chuyển hóa lipid thường gặp ở người ĐTĐ hơn người không ĐTĐ. Cholesterol toàn phần cao, LDL cao, triglyceride cao và HDL giảm nhưng thành phần rối loạn nặng nhất là triglyceride.

4.3. Các biến chứng mạn tính khác:

-   Biến chứng ngoài da

  • Ngứa lan tỏa hay ngứa cơ quan sinh dục do mất cân bằng đường huyết.
  • Necrobiose lipodic (tổn thương do đặc trưng của ĐTĐ) với biểu hiện da mỏng như tờ giấy, không đau, các nốt màu vàng ở mặt trước cẳng chân có thể thấy các mao mạch bên dưới. Tự lui bệnh với corticoid điều trị tại chỗ.
  • Nhiễm nấm sinh dục (viêm âm đạo, âm hộ, bao quy đầu) và nhiễm nấm ngoài da (hăm, viêm mỏng, chân vận động viên).

-   Các biến chứng khác kết hợp với ĐTĐ

Nhiễm khuẩn do vi khuẩn: Thường gặp và nặng trên bệnh nhân ĐTĐ.

5.   Mục tiêu kiểm soát đường huyết trên bệnh nhân Đái tháo đường:

Điều trị đái tháo đường là điều trị tổng thể, không chỉ đường huyết mà bao gồm cả các yếu tố nguy cơ gây tăng biến chứng của bệnh như: mỡ máu, huyết áp… Để đạt được mục tiêu kiểm soát đường huyết cần kiểm soát tốt cả đường huyết lúc đói và đường huyết sau ăn. Mục tiêu điều trị thay đổi theo từng trường hợp cụ thể, theo Liên đoàn Đái tháo đường thế giới khu vực Tây Thái Bình Dương:

-   Đường huyết trước ăn :  < 70-130 mg/dl

-   Đường huyết sau ăn 2 giờ : < 160-180 mg/dl

-   HbA1c:   < 7%

6.   Các biện pháp điều trị:

Các biện pháp điều trị bệnh bao gồm: chế độ ăn uống, chế độ tập luyện sinh hoạt và điều trị bằng thuốc. Mỗi người bệnh cần được thiết lập một kế hoạch chữa trị bệnh. Tuy nhiên người bệnh cần lưu ý: Mỗi giai đoạn, mỗi phác đồ điều trị cần có một chế độ dinh dưỡng hợp lý và cần thiết cá nhân hóa (phù hợp thói quen, lối sống, phong tục tập quán của người bệnh).

Chế độ ăn uống sinh hoạt cần chú ý:

-   Ăn thực phẩm lành mạnh như trái cây, rau cải, cá, thịt nạc, thịt gà hay gà tây bỏ da, đậu hà lan hay đậu khô, ngũ cốc nguyên hạt và sữa ít chất béo hoặc khử béo và phô mai.

-   Dùng khẩu phần cá và thịt nạc, thịt gia cầm khoảng 100 gram.

-   Nên ăn thực phẩm ít chất béo và muối.

-   Nên ăn thực phẩm có nhiều chất xơ như ngũ cốc nguyên hạt, bánh mì, bánh lạt, gạo hoặc nui.

Lời khuyên cho chế độ tập luyện sinh hoạt:

Tập luyện làm tăng tiêu thụ glucose, tăng vận chuyển glucose vào tế bào, tăng lưu thông máu… Do vậy tập luyện làm giảm đường huyết và tăng nhạy cảm insulin. Mặt khác luyện tập còn giúp người bệnh kiểm soát huyết áp, mỡ máu tốt hơn, tăng sức mạnh và sự linh hoạt của cơ thể, giảm cân và duy trì cân nặng hợp lý.

-   Hãy dành từ 30 đến 60 phút để tập thể dục mỗi ngày. Người bệnh cần tập luyện ở cường độ vừa phải. Đi bộ nhanh là một cách thức tuyệt vời để vận động nhiều hơn. Người bệnh có thể tận dụng thời gian rảnh hoặc công việc có thể đi lại được để luyện tập: Đi cầu thang thường thay vì đi thang máy, dọn dẹp nhà cửa, nơi làm việc…

Chú ý khi luyện tập: Tập luyện kéo dài, cường độ cao làm gia tăng nguy cơ tim mạch và chấn thương ở những bệnh nhân có biến chứng mạch máu, tuổi cao.  Người bệnh nên tư vấn bác sỹ điều trị trước khi thực hiện kế hoạch luyện tập, đặc biệt bệnh nhân có nguy cơ cao biến chứng tim mạch, thận và mắt. Không nên tập luyện đột xuất và cường độ cao. Nếu tập luyện thời gian dài, cường độ cao, người bệnh nên có bữa ăn phụ và uống đủ nước trước khi luyện tập.

Lời khuyên khi dùng thuốc:

-   Quan điểm dùng thuốc theo y học hiện đại:

Trong điều trị ĐTĐ hiện nay bác sỹ thường sử dụng insulin và các thuốc uống. Insulin là nội tiết tố tuyến tụy có khả năng làm hạ đường huyết bằng cách giúp đường vào trong tế bào cơ, gan và mỡ để sinh năng lượng cung cấp cho mọi hoạt động của cơ thể. Các thuốc uống hạ đường huyết được phân loại dựa theo cơ chế tác dụng cơ bản của thuốc, gồm có: thuốc kích thích làm tăng tiết insulin (Glibenclamid, Glipizid, Gliclazid), thuốc làm tăng nhạy cảm insulin và tăng sử dụng insulin ở ngoại vi (Metformin, Glucophage..), thuốc làm giảm hấp thu các chất đường bột sau ăn (Acarbose, Glucobay, Miglitol). Bệnh nhân nên tuân thủ theo đúng phác đồ điều trị của bác sỹ.

-   Quan điểm dùng thuốc theo y học cổ truyền:

Các thầy thuốc Đông Y khi điều trị bệnh nhân ĐTĐ type 2 sẽ tùy thuộc tình trạng của người bệnh mà quyết định chỉ dùng thuốc Tây y (Glucophage, Diamicron, Amaryl,  Mixtard…), hay thuốc Đông y (Khổ qua, dây thìa canh, hoài sơn, thương truật…), hay kết hợp cả hai loại thuốc Đông y và Tây y nhằm làm tăng tác dụng hạ đường huyết, giảm các tác dụng phụ, giảm chi phí điều trị…

Thông tin bệnh học liên quan

  • Công dụng

    -          Giúp hạ và ổn định đường huyết, giảm cholesterol và lipit trong máu.

    -          Giúp giảm chỉ số HbA1c, ngăn ngừa các biến chứng do bệnh tiểu đường gây ra

    -          Hỗ trợ điều trị bệnh tiểu đường

    Kết quả nghiên cứu lâm sàng tại Bệnh viện Trung ương quân đội 108 đã chứng minh tác dụng hạ đường huyết và ngăn ngừa biến chứng tiểu đường của TĐCARE.

    Nghiên cứu đã chọn ra 60 bệnh nhân bị tiểu đường type 2 lâu năm (thường trên 10 năm) đang điều trị nội và ngoại trú tại bệnh viện Trung ương quân đội 108 trong thời gian từ 04/2013 đến 04/2014. Bệnh nhân khi được chẩn đoán xác định đái tháo đường type 2 được chia ngẫu nhiên thành 2 nhóm: Nhóm nghiên cứu (sử dụng thuốc hạ đường máu + TĐCARE) và nhóm chứng (chỉ sử dụng thuốc hạ đường máu). Kết quả sau 3 tháng điều trị:

    -          Những bệnh nhân nhóm nghiên cứu có tác dụng làm hạ đường huyết tốt hơn từ (8.7 xuống 6.37) so với nhóm chứng (từ 8.71 xuống 7.23). Ngoài ra, khi sử dụng viên tiểu đường TĐCARE có thể giảm được liều thuốc tân dược ở những bệnh nhân ĐTĐ type 2 mức độ vừa và nhẹ.

     Biểu đồ so sánh chỉ số đường huyết của nhóm nghiên cứu và nhóm chứng.

    nghien-cuu-lam-sang

    -          Chỉ số HbA1c của những bệnh nhân nhóm nghiên cứu sau 3 tháng điều trị có xu hướng giảm từ 8,63% xuống 6,14%. Ngược lại, chỉ sốHbA1c của bệnh nhân nhóm chứng có xu hướng giảm nhưng không đáng kể (từ 7,77% xuống 7,47%).

    Biểu đồ so sánh chỉ số HbA1c của nhóm nghiên cứu và nhóm chứng

    nghien-cuu-lam-sang1

    Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, TĐCARE có tác dụng làm giảm Cholesterol và Triglicerid máu. Đồng thời, sau nghiên cứu bệnh nhân sử dụng TĐCARE có mức đường huyết ổn định, chỉ số HbA1c rất tốt và duy trì trong khoảng cho phép.

    Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy TĐCARE an toàn với người bệnh, và không gây tác dụng phụ. Vì vậy, người bệnh có thể yên tâm sử dụng lâu dài.

  • Thành phần
    • Khổ qua…………………………. 3,0g
    • Dây thìa canh…………………. 1,0g
    • Thương truật…………………… 1,0g
    • Linh Chi…………………………. 0,3g
    • Sinh địa………………………….. 0,3g
    • Hoài sơn…………………………. 0,2g
    • Tảo Spirulina…………………… 0,3g
    • Tá dược vừa đủ…………………. 1 viên
  • Đối tượng sử dụng
    • Dùng cho người bị bệnh đường huyết, người cholesterol và lipit trong máu cao.
    • Dùng cho người có nguy cơ cao mắc bệnh tiểu đường.
  • Thông tin bệnh học

    Đái tháo đường (ĐTĐ) là một bệnh tăng đường huyết mạn tính, do thiếu insulin tương đối hay tuyệt đối, gồm ĐTĐ type1, type 2 và ĐTĐ thai kỳ, trong đó ĐTĐ type 2 hay ĐTĐ không phụ thuộc insulin chiếm tỷ lệ tới hơn 90%. Theo WHO và IDF (International Diabetes Federation –Hiệp hội ĐTĐ thế giới), đến năm 2030, cả thế giới có khoảng 350 triệu người mắc ĐTĐ type 2, gấp đôi con số hiện tại. Việt Nam thuộc khu vực châu Đông Nam Á, theo một báo cáo của Ruta và cộng sự, có tỷ lệ người dân bị ĐTĐ type 2 khoảng 12,2 – 44,3%.

    1.   Định nghĩa:

    Theo WHO, bệnh tiểu đường (đái tháo đường) là bệnh mà đường máu lúc đói lớn hơn 7 mmol/l (126 mg/dl) khi xét nghiệm đường máu hơn 2 lần hoặc định lượng đường máu ở bất kỳ thời điểm nào cũng lớn hơn 11 mmol/l (189 mg/dl).

    2.   Phân loại:

    2.1. Đái tháo đường type 1 (ĐTĐ phụ thuộc insulin):

    -   Xảy ra ở người trẻ, phần lớn từ 10 – 20 tuổi.

    -   Tỷ lệ mắc cao ở các gia đình có người bị ĐTĐ phụ thuộc insulin.

    -   Có xu hướng biến chứng hôn mê toan huyết.

    -   Thường có HLADR3 và/hoặc HLADR4.

    -   Có kháng thể kháng tiểu đảo Langerhans.

    -   Sự bài tiết insulin có thể còn ở giai đoạn đầu chẩn đoán, sau đó giảm dần đến cạn kiệt sau ít năm. Có thể chia type 1 thành 2 loại: Ia và Ib.

    2.2. Đái tháo đường type 2 (ĐTĐ không phụ thuộc insulin):

    -   Thường xảy ra ở người trên 35 tuổi.

    -   Đường huyết thường tăng cao nhiều năm trước khi được chẩn đoán.

    -   Thường có triệu chứng nhẹ, được chẩn đoán tình cờ.

    -   Đa số bệnh nhân thuộc loại béo (90% ở các nước phát triển).

    -   Sự tiết insulin thấp tương đối, có sự kháng insulin ở tổ chức ngoại biên và gan.

    -   Các yếu tố di truyền ở loại này rất quan trọng, thường thấy ở trẻ sinh đôi đồng hợp tử (100% ở type 2, trong khi chỉ có 50% ở type 1).

    -   Có thể chia 3 type: type 2 không béo, type 2 béo và thể MODY (ĐTĐ khởi phát ở người trẻ tuổi).

    2.3. Đái tháo đường thai kỳ:

    -   Thường gặp ở nữ có thai có đường huyết tăng hoặc giảm dung nạp glucose, gặp khi có thai lần đầu và mất đi sau đẻ.

    -   Sự tiến triển của đái tháo đường thai kỳ sau đẻ theo 3 khả năng: trở thành ĐTĐ thực sự, giảm dung nạp đường huyết lúc đói hoặc khỏi hoàn toàn.

    -   Thường gặp ở người có tiền sử gia đình có ĐTĐ, tiền sử thai nhi chết trước khi sinh hoặc dị dạng, đa ối, nhiễm độc huyết, kháng nguyên HLADR+.

    3.   Chẩn đoán:

    3.1. Triệu chứng lâm sàng cổ điển:

    Các triệu chứng rầm rộ thường ít gặp, trừ giai đoạn mất bù: ăn nhiều, sút cân, đái nhiều, uống nhiều.

    3.2.Triệu chứng sinh hóa:

    -   Đường huyết đói ≥ 126 mg/dl

    -   Đường huyết 2 giờ sau test dung nạp Glucose ≥ 200 mg/dl

    -   Đường huyết ngẫu nhiên ≥ 200 mg/dl kèm với triệu chứng tăng đường huyết

    -   Tiền đái tháo đường: HbA1c = 5,7 – 6,4%.

    -   Đường huyết đói: 100 – 125 mg/dl hay đường huyết 2 giờ sau test dung nạp glucose: 140 – 199 mg/dl.

    3.3. Các xét nghiệm khác:

    -   Đường niệu: chỉ có tăng đường huyết mới khẳng định chẩn đoán; việc phát hiện đường niệu ngay cả với phương pháp đặc hiệu glucose – oxydase cũng phải đối chiếu với đường huyết để đối chiếu với đường huyết để loại trừ đái đường do thận.

    -   Hemoglobin glycosyl hóa: Chỉ số HbA1c tương quan chặt chẽ với giá trị đường huyết trong một thời gian dài. Trước đây, HbA1c chỉ có ý nghĩa theo dõi mà không phải tiêu chuẩn chẩn đoán. Tuy nhiên hiện nay, chỉ số này đã được coi như một trong những tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ type 2.

    4.   Biến chứng của bệnh ĐTĐ:

    4.1. Biến chứng vi mạch:

    -   Biến chứng này tác động đến tất cả các cơ quan do tổn thương các mạch máu có đường kính < 3 µm, do màng đáy dày lên.

    -   Liên quan tới tăng đường huyết bất kể loại và nguyên nhân nào.

    -   Một số yếu tố khác đóng vai trò tới biến chứng này:

    • Tăng huyết áp làm nặng thêm tăng áp lực mao mạch.
    • Rối loạn huyết động, tăng tổng hợp thromboxan A2, tăng độ kết dính và ngưng tập tiểu cầu, tăng độ quánh của máu.
    • Rối loạn nội tiết: tăng hormone sinh trưởng, cường insulin và cường glucagon.

    4.1.1. Biến chứng võng mạc:

    Bệnh võng mạch do ĐTĐ gồm các triệu chứng sau:

    -   Giãn các tĩnh mạch nhỏ.

    -   Các vi phình mạch.

    -   Xuất huyết.

    -   Phù nề võng mạc.

    -   Phù hoàng điểm.

    -   Xuất huyết các tân mạch.

    4.1.2. Biến chứng thận do ĐTĐ:

    Tổn thương các cuộn mạch cầu thận do màng đáy mao mạch dày và xuất hiện các lắng cặn dạng màng, nhuộm PAS dương tính.

    Các cặn có thể là các hạt (tạo ra sự xơ cuộn mạch cầu thận trong hội chứng Kimmelstiel Wilson) hoặc các cặn lan tỏa.

    Sau một thời gian dài không triệu chứng, có thể phát hiện albumin siêu nhỏ, với lượng > 30 mg/phút.

    -   Độ lọc cầu thận giảm. Xuất hiện hội chứng thận hư.

    -   Creatinin máu cao.

    4.2. Biến chứng mạch máu lớn:

    Hai biến chứng thường có và nặng là suy vành và bệnh động mạch chi dưới.

    -   Suy vành

    Điển hình hoặc không điển hình (không đau ngực)

    • Nhồi máu cơ tim điển hình hoặc yên lặng là một nguyên nhân suy tim ở người ĐTĐ.
    • Bệnh mạch vành là nguyên nhân gây tử vong hang đầu của ĐTĐ, gấp 3 lần so với người không ĐTĐ.

    -   Bệnh động mạch chi dưới

    Bệnh ĐTĐ có nguy cơ viêm động mạch chi dưới gấp 40 lần đối tượng không ĐTĐ. Tắc mạch chi có thể gây hoại tử các ngón chân, loét bàn chân.

    -   Tai biến mạch máu não

    Nhồi máu não và xuất huyết não nhiều gấp 3 lần ở người bình thường do xơ vữa động mạch và tăng huyết áp.

    Các biến chứng mạch máu lớn là nguyên nhân gây tử vong chính trong bệnh ĐTĐ, gặp ở ĐTĐ type 2 nhiều hơn type 1. Khi có biến chứng thận thì nguy cơ này bằng nhau cho cả 2 type.

    -   Cao huyết áp

    Rất thường gặp (30% bệnh nhân ĐTĐ thường bị cao huyết áp), có thể liên quan tới kháng insulin và béo phì. Trong một số trường hợ cao huyết áp do hẹp động mạch thận.

    -   Xơ vữa động mạch và rối loạn chuyển hóa lipid

    Xơ vữa động mạch và rối loạn chuyển hóa lipid thường gặp ở người ĐTĐ hơn người không ĐTĐ. Cholesterol toàn phần cao, LDL cao, triglyceride cao và HDL giảm nhưng thành phần rối loạn nặng nhất là triglyceride.

    4.3. Các biến chứng mạn tính khác:

    -   Biến chứng ngoài da

    • Ngứa lan tỏa hay ngứa cơ quan sinh dục do mất cân bằng đường huyết.
    • Necrobiose lipodic (tổn thương do đặc trưng của ĐTĐ) với biểu hiện da mỏng như tờ giấy, không đau, các nốt màu vàng ở mặt trước cẳng chân có thể thấy các mao mạch bên dưới. Tự lui bệnh với corticoid điều trị tại chỗ.
    • Nhiễm nấm sinh dục (viêm âm đạo, âm hộ, bao quy đầu) và nhiễm nấm ngoài da (hăm, viêm mỏng, chân vận động viên).

    -   Các biến chứng khác kết hợp với ĐTĐ

    Nhiễm khuẩn do vi khuẩn: Thường gặp và nặng trên bệnh nhân ĐTĐ.

    5.   Mục tiêu kiểm soát đường huyết trên bệnh nhân Đái tháo đường:

    Điều trị đái tháo đường là điều trị tổng thể, không chỉ đường huyết mà bao gồm cả các yếu tố nguy cơ gây tăng biến chứng của bệnh như: mỡ máu, huyết áp… Để đạt được mục tiêu kiểm soát đường huyết cần kiểm soát tốt cả đường huyết lúc đói và đường huyết sau ăn. Mục tiêu điều trị thay đổi theo từng trường hợp cụ thể, theo Liên đoàn Đái tháo đường thế giới khu vực Tây Thái Bình Dương:

    -   Đường huyết trước ăn :  < 70-130 mg/dl

    -   Đường huyết sau ăn 2 giờ : < 160-180 mg/dl

    -   HbA1c:   < 7%

    6.   Các biện pháp điều trị:

    Các biện pháp điều trị bệnh bao gồm: chế độ ăn uống, chế độ tập luyện sinh hoạt và điều trị bằng thuốc. Mỗi người bệnh cần được thiết lập một kế hoạch chữa trị bệnh. Tuy nhiên người bệnh cần lưu ý: Mỗi giai đoạn, mỗi phác đồ điều trị cần có một chế độ dinh dưỡng hợp lý và cần thiết cá nhân hóa (phù hợp thói quen, lối sống, phong tục tập quán của người bệnh).

    Chế độ ăn uống sinh hoạt cần chú ý:

    -   Ăn thực phẩm lành mạnh như trái cây, rau cải, cá, thịt nạc, thịt gà hay gà tây bỏ da, đậu hà lan hay đậu khô, ngũ cốc nguyên hạt và sữa ít chất béo hoặc khử béo và phô mai.

    -   Dùng khẩu phần cá và thịt nạc, thịt gia cầm khoảng 100 gram.

    -   Nên ăn thực phẩm ít chất béo và muối.

    -   Nên ăn thực phẩm có nhiều chất xơ như ngũ cốc nguyên hạt, bánh mì, bánh lạt, gạo hoặc nui.

    Lời khuyên cho chế độ tập luyện sinh hoạt:

    Tập luyện làm tăng tiêu thụ glucose, tăng vận chuyển glucose vào tế bào, tăng lưu thông máu… Do vậy tập luyện làm giảm đường huyết và tăng nhạy cảm insulin. Mặt khác luyện tập còn giúp người bệnh kiểm soát huyết áp, mỡ máu tốt hơn, tăng sức mạnh và sự linh hoạt của cơ thể, giảm cân và duy trì cân nặng hợp lý.

    -   Hãy dành từ 30 đến 60 phút để tập thể dục mỗi ngày. Người bệnh cần tập luyện ở cường độ vừa phải. Đi bộ nhanh là một cách thức tuyệt vời để vận động nhiều hơn. Người bệnh có thể tận dụng thời gian rảnh hoặc công việc có thể đi lại được để luyện tập: Đi cầu thang thường thay vì đi thang máy, dọn dẹp nhà cửa, nơi làm việc…

    Chú ý khi luyện tập: Tập luyện kéo dài, cường độ cao làm gia tăng nguy cơ tim mạch và chấn thương ở những bệnh nhân có biến chứng mạch máu, tuổi cao.  Người bệnh nên tư vấn bác sỹ điều trị trước khi thực hiện kế hoạch luyện tập, đặc biệt bệnh nhân có nguy cơ cao biến chứng tim mạch, thận và mắt. Không nên tập luyện đột xuất và cường độ cao. Nếu tập luyện thời gian dài, cường độ cao, người bệnh nên có bữa ăn phụ và uống đủ nước trước khi luyện tập.

    Lời khuyên khi dùng thuốc:

    -   Quan điểm dùng thuốc theo y học hiện đại:

    Trong điều trị ĐTĐ hiện nay bác sỹ thường sử dụng insulin và các thuốc uống. Insulin là nội tiết tố tuyến tụy có khả năng làm hạ đường huyết bằng cách giúp đường vào trong tế bào cơ, gan và mỡ để sinh năng lượng cung cấp cho mọi hoạt động của cơ thể. Các thuốc uống hạ đường huyết được phân loại dựa theo cơ chế tác dụng cơ bản của thuốc, gồm có: thuốc kích thích làm tăng tiết insulin (Glibenclamid, Glipizid, Gliclazid), thuốc làm tăng nhạy cảm insulin và tăng sử dụng insulin ở ngoại vi (Metformin, Glucophage..), thuốc làm giảm hấp thu các chất đường bột sau ăn (Acarbose, Glucobay, Miglitol). Bệnh nhân nên tuân thủ theo đúng phác đồ điều trị của bác sỹ.

    -   Quan điểm dùng thuốc theo y học cổ truyền:

    Các thầy thuốc Đông Y khi điều trị bệnh nhân ĐTĐ type 2 sẽ tùy thuộc tình trạng của người bệnh mà quyết định chỉ dùng thuốc Tây y (Glucophage, Diamicron, Amaryl,  Mixtard…), hay thuốc Đông y (Khổ qua, dây thìa canh, hoài sơn, thương truật…), hay kết hợp cả hai loại thuốc Đông y và Tây y nhằm làm tăng tác dụng hạ đường huyết, giảm các tác dụng phụ, giảm chi phí điều trị…

Thực phẩm chức năng TĐcare

Viên tiểu đường TĐCARE là sản phẩm 100% nguồn gốc thảo dược có tác dụng hỗ trợ điều trị bệnh tiểu đường, đặc biệt giúp ngăn ngừa các biến chứng nguy hiểm do bệnh tiểu đường gây ra. Sản phẩm được kết hợp từ 7 thảo dược quý: Khổ qua, dây thìa canh, tảo spirulina, hoài sơn, sinh địa, thương truật, linh chi giúp hạ đường huyết, hỗ trợ làm giảm cholesterol trong máu. TĐCARE làm giảm chỉ số HbA1c, giảm các nguy cơ biến chứng của bệnh tiểu đường, phòng bệnh cho các đối tượng có nguy cơ cao. Số XNCB: 21386/2016/ATTP-XNCB Số ĐKQC: 1102/2015/XNQC-ATTP
HOTLINE1900 6436
Hỏi đáp về sản phẩm